Lịch sử virus máy tính
12:23:00 | 24-08-2009

Có thể nói virus máy tính có một quá trình phát triển khá dài, và nó luôn song hành cùng "người bạn đồng hành" của nó là những chiếc máy tính (tuy nhiên người bạn máy tính của nó chẳng thích thú gì). Khi mà công nghệ phần mềm cũng như phần cứng phát triển thì virus cũng phát triển theo. Hệ điều hành thay đổi thì virus máy tính cũng thay đổi để có thể ăn bám, ký sinh trên hệ điều hành mới. Tất nhiên là virus máy tính không tự sinh ra. Chúng do con người tạo ra nên chắc chắn sẽ diệt được.

Có thể việc viết virus mang mục đích phá hoại, thử nghiệm hay đơn giản chỉ là một thú đùa vui (nhiều khi ác ý. Nhưng những bộ óc này khiến chúng ta phải đau đầu đối phó và cuộc chiến này không bao giờ chấm dứt, nó đã, đang và sẽ luôn luôn tiếp diễn.

Có nhiều tài liệu khác nhau nói về xuất xứ của virus máy tính, điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ vào thời điểm đó con người chưa thể hình dung ra một "xã hội" đông đúc và nguy hiểm của virus máy tính như ngày nay. Điều đó cũng có nghĩa là không nhiều người quan tâm tới chúng. Chỉ khi chúng gây ra những hậu quả nghiêm trọng như ngày nay, người ta mới lật lại hồ sơ để tìm hiểu. Tuy vậy, đa số các câu chuyện xoay quanh việc xuất xứ của virus máy tính đều ít nhiều liên quan tới những sự kiện sau:

1983 - Để lộ nguyên lý của trò chơi "Core War"

"Core War" là một cuộc đấu trí giữa hai đoạn chương trình máy tính do 2 lập trình viên viết ra. Mỗi đấu thủ sẽ đưa một chương trình có khả năng tự tái tạo gọi là Organism vào bộ nhớ máy tính. Khi bắt đầu cuộc chơi, mỗi đấu thủ sẽ cố gắng phá huỷ Organism của đối phương và tái tạo Organism của mình. Đấu thủ thắng cuộc là đấu thủ tự nhân bản được nhiều nhất. Hiện trò chơi này vẫn còn được khá nhiều người quan tâm, bạn có thể tham khảo trên trang web http://www.corewars.org/.

Trò chơi "Core War" này được giữ kín đến năm 1983, Ken Thompson người đã viết phiên bản đầu tiên cho hệ điều hành UNIX, đã để lộ ra khi nhận một trong những giải thưởng danh dự của giới điện toán - Giải thưởng A.M Turing. Trong bài diễn văn của mình ông đã đưa ra một ý tưởng về virus máy tính dựa trên trò chơi "Core War". Cũng năm 1983, tiến sỹ Frederik Cohen đã chứng minh được sự tồn tại của virus máy tính.

Tháng 5 năm 1984 tờ báo Scientific America có đăng một bài báo mô tả về "Core War" và cung cấp cho độc giả những thông tin hướng dẫn về trò chơi này. Kể từ đó virus máy tính xuất hiện và đi kèm theo nó là cuộc chiến giữa những kẻ viết ra virus và những chuyên gia diệt virus.

1986 - Virus Brain

Có thể được coi là virus máy tính đầu tiên trên thế giới. Tháng 1 năm 1986, Brain âm thầm đổ bộ từ Pakistan vào nước Mỹ với mục tiêu đầu tiên là Trường Đại học Delaware. Một nơi khác trên thế giới cũng đã mô tả sự xuất hiện của virus, đó là Đại học Hebrew - Israel.

1987 - Virus Lehigh xuất hiện

Lại một lần nữa liên quan tới một trường Đại học. Lehigh - Tên trường Đại học - cũng chính là tên của virus xuất hiện năm 1987 tại trường Đại học này. Trong thời gian này cũng có một số virus khác xuất hiện, đặc biệt Virus Worm (virus loại sâu), cơn ác mộng với các hệ thống máy chủ cũng xuất hiện. Cái tên Jerusalem chắc sẽ làm cho công ty IBM nhớ mãi với tốc độ lây lan đáng nể: 500.000 nhân bản trong 1 giờ.

1988 - Virus lây trên mạng

Ngày 2 tháng 11 năm 1988, Robert Morris phát tán virus vào mạng máy tính quan trọng nhất của Mỹ, gây thiệt hại lớn. Từ đó trở đi người ta mới bắt đầu nhận thức được tính nguy hại của virus máy tính.

1989 - AIDS Trojan

Xuất hiện Trojan hay còn gọi là "con ngựa thành Tơ-roa". Chúng không phải là virus máy tính vì chúng không có khả năng "tự" lây lan, nhưng chúng luôn đi cùng với khái niệm virus. Những "con ngựa thành Tơ-roa" này khi đã hoạt động trên máy tính thì nó sẽ lấy cắp thông tin mật trên đó và gửi đến một địa chỉ mà chủ của chú ngựa này muốn vận chuyển đến, hoặc đơn giản chỉ là phá huỷ dữ liệu trên máy tính.

1991 - Virus Tequila

Đây là loại virus đầu tiên mà giới chuyên môn gọi là virus đa hình, nó đánh dấu một bước ngoặt trong cuộc chiến giữa cái thiện và cái ác trong các hệ thống máy tính.

Đây thực sự là loại virus phức tạp và quả thật không dễ dàng gì để diệt chúng. Chúng có khả năng tự "thay hình đổi dạng" sau mỗi lần lây nhiễm, làm cho việc phát hiện ra chúng không hề dễ dàng.

1992 - Virus Michelangelo

Tiếp nối sự đáng sợ của "virus đa hình" năm 1991, thì công cụ năm 1992 này tạo thêm sức mạnh cho các loại virus máy tính bằng cách tạo ra virus đa hình cực kỳ phức tạp.

1995 - Virus Concept

Sau gần 10 năm kể từ ngày virus máy tính đầu tiên xuất hiện, đây là loại virus đầu tiên có nguyên lý hoạt động gần như thay đổi hoàn toàn so với những "tiền bối" của nó. Chúng gây ra một cú sốc lớn cho những công ty diệt virus cũng như những người tình nguyện trong lĩnh vực phòng chống virus máy tính trên toàn thế giới. Rất tự hào rằng khi virus Concept xuất hiện, trên thế giới chưa có loại "kháng sinh" nào thì tại Việt Nam một sinh viên trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã đưa ra giải pháp rất đơn giản để diệt trừ loại virus này, đó cũng chính là thời điểm Bkav bắt đầu được mọi người sử dụng rộng rãi trên toàn quốc.

Sau này, những virus theo nguyên lý của Concept được gọi chung là Virus macro. Chúng tấn công vào các hệ soạn thảo văn bản của Microsoft Office (Word, Exel, Powerpoint). Tuy nhiên ngày nay, cùng với việc mọi người không còn sử dụng các macro trong văn bản của mình nữa thì các virus macro hầu như không còn tồn tại và đang dần bị quên lãng…

1996 - Virus Boza

Khi  hãng Microsoft chuyển sang hệ điều hành Windows95, họ tuyên bố rằng virus không thể công phá thành trì của họ được, thì ngay năm 1996 xuất hiện virus lây trên hệ điều hành Windows95.

1999 - Virus Melissa, BubbleBoy

Đây thật sự là một cơn ác mộng với các máy tính trên khắp thế giới. Sâu Melissa không những kết hợp các tính năng của sâu Internet và virus marco, mà nó còn biết khai thác một công cụ mà chúng ta thường sử dụng hàng ngày là Microsoft Outlook Express để chống lại chính chúng ta. Khi máy tính bị nhiễm Mellisa, nó sẽ "phát tán" mình đi mà khổ chủ không hề hay biết. Và người sử dụng sẽ rất bất ngờ khi bị mang tiếng là kẻ phát tán virus.

Chỉ từ ngày thứ Sáu tới ngày thứ Hai tuần sau, virus này đã kịp lây nhiễm 250.000 máy tính trên thế giới thông qua Internet, trong đó có Việt Nam, gây thiệt hại hàng trăm triệu USD. Một lần nữa cuộc chiến lại sang một bước ngoặt mới, báo hiệu nhiều khó khăn bởi Internet đã được chứng minh là một phương tiện hữu hiệu để virus máy tính có thể lây lan trên toàn cầu chỉ trong vài giờ đồng hồ.

BubbleBoy là sâu máy tính đầu tiên không dựa vào việc người nhận e-mail có mở file đính kèm hay không. Chỉ cần thư được mở ra, nó sẽ tự hoạt động.

Năm 1999 đúng là một năm đáng nhớ của những người sử dụng máy tính trên toàn cầu, ngoài Melissa, BubbleBoy, virus Chernobyl hay còn gọi là CIH đã phá huỷ dữ liệu của hàng triệu máy tính trên thế giới, gây thiệt hại gần 1 tỷ USD vào ngày 26 tháng 4 năm 1999.

2000 - Virus DDoS, Love Letter

Có thể coi là một trong những vụ phá hoại lớn nhất của virus từ trước đến thời điểm đó. Love Letter có xuất xứ từ Philippines do một sinh viên nước này tạo ra, chỉ trong vòng 6 tiếng đồng hồ virus đã kịp đi vòng qua 20 nước trong đó có Việt Nam, lây nhiễm 55 triệu máy tính, gây thiệt hại 8,7 tỷ USD.

Năm 2000 cũng là năm ghi nhớ cuộc "Tấn công Từ chối dịch vụ phân tán" - DDoS (Distributed Denial of Service ) qui mô lớn do virus gây ra đầu tiên trên thế giới, nạn nhân của đợt tấn công này là Yahoo!, Amazon.com... Tấn công "Từ chối dịch vụ" – DoS - là cách tấn công gây "ngập lụt" bằng cách từ một máy gửi liên tiếp các yêu cầu vượt mức bình thường tới một dịch vụ trên máy chủ, làm ngưng trệ, tê liệt khả năng phục vụ của dịch vụ hay máy chủ đó. Những virus loại này phát tán đi khắp nơi và "nằm vùng" ở những nơi nó lây nhiễm. Chúng sẽ đồng loạt tấn công theo kiểu DoS vào các hệ thống máy chủ khi người điều hành nó phất cờ, hoặc đến thời điểm được định trước.

2001 – Virus Winux (Windows/Linux), Nimda, Code Red

Virus Winux đánh dấu dòng virus có thể lây được trên các hệ điều hành Linux chứ không chỉ Windows. Chúng ngụy trang dưới dạng file MP3 cho download.

Nimda, Code Red là những virus tấn công các đối tượng của nó bằng nhiều con đường khác nhau (từ máy chủ sang máy chủ, sang máy trạm, từ máy trạm sang máy trạm...), làm cho việc phòng chống vô cùng khó khăn. Cho đến tận cuối năm 2002, ở Việt Nam vẫn còn những cơ quan với mạng máy tính có hàng trăm máy tính bị virus Nimda quấy nhiễu. Chúng cũng chỉ ra một xu hướng mới của các loại virus máy tính là "tất cả trong một", trong một virus bao gồm nhiều virus, nhiều nguyên lý khác nhau.

2002 - Sự ra đời của hàng loạt loại virus mới

Ngay trong tháng 1 năm 2002 đã có một loại virus mới ra đời. Virus này lây những file .SWF, điều chưa từng xảy ra trước đó (ShockWaveFlash - một loại công cụ giúp làm cho các trang Web thêm phong phú). Tháng 3 đánh dấu sự ra đời của loại virus viết bằng ngôn nhữ C#, một ngôn ngữ mới của Microsoft. Con sâu .Net này có tên SharpA và được viết bởi một người phụ nữ.

Tháng 5 SQLSpider ra đời và chúng tấn công các chương trình dùng SQL. Tháng 6, có vài loại virus mới ra đời: Perrun lây qua Image JPEG (có lẽ người sử dụng máy tính nên cảnh giác với mọi thứ). Scalper tấn công các FreeBSD/Apache Web server.

Người sử dụng máy tính trên thế giới bắt đầu phải cảnh giác với một loại chương trình độc hại mới mang mục đích quảng cáo bất hợp pháp - Adware - và thu thập thông tin cá nhân trái phép - Spyware (phần mềm gián điệp). Lần đầu tiên các chương trình Spyware, Adware xuất hiện như là các chương trình độc lập, không đi kèm theo các phần mềm miễn phí như trước đó. Chúng bí mật xâm nhập vào máy của người dùng khi họ vô tình "ghé thăm" những trang web có nội dung không lành mạnh, các trang web bẻ khóa phần mềm…Và với nguyên lý như vậy, ngày nay Adware và Spyware đã thực sự trở thành những "bệnh dịch" hoành hành trên mạng Internet.

2003 - Các virus khai thác lỗ hổng phần mềm

Năm 2003 mở đầu thời kỳ phát triển mạnh mẽ của các virus khai thác lỗ hổng phần mềm để cài đặt, lây nhiễm lên các máy tính từ xa - đây cũng chính là xu hướng phát triển hiện nay của virus trên thế giới. Đầu tiên là virus Slammer khai thác lỗ hổng phần mềm Microsoft SQL 2000 servers, chỉ trong vòng 10 phút đã lây nhiễm trên 75.000 máy tính trên khắp thế giới. Tiếp đến là hàng loạt các virus khác như Blaster (MsBlast), Welchia (Nachi), Mimail, Lovgate... khai thác lỗi tràn bộ đệm trong công nghệ DCOM - RPC trên hệ điều hành Window2K, XP. Xuất hiện trên thế giới vào ngày 11/8, virus Blaster nhanh chóng lây lan hơn 300.000 máy tính trên khắp thế giới. Những người sử dụng máy tính ở Việt Nam hẳn không quên được sự hỗn loạn vì hàng loạt máy tính bị Shutdown tự động trong ngày 12/8 khi virus Blaster đổ bộ vào các máy tính ở Việt Nam.

Virus cũng bắt đầu được sử dụng như một công cụ để phát tán thư quảng cáo (spam) nhanh nhất. Các virus họ Sobig nổi lên như những cỗ máy phát tán một lượng thư quảng cáo khổng lồ trên khắp thế giới. Cũng trong năm này, thế hệ những virus mới như Lovgate, Fizzer đã bắt đầu sử dụng những mạng chia sẻ file ngang hàng peer to peer (như KaZaa) để phát tán virus qua các thư mục chia sẻ trên mạng.

2004 - Cuộc chạy đua giữa Skynet và Beagle

Cuộc chạy đua giữa hai họ virus cùng có nguồn gốc từ Đức và lây nhiễm nhiều nhất trong năm này, bắt đầu bằng việc các biến thể mới của virus Skynet khi lây nhiễm vào một máy tính sẽ tìm cách loại bỏ các virus họ Beagle ra khỏi máy đó và ngược lại. Mỗi biến thể của Skynet xuất hiện trên thế giới thì gần như ngay lập tức sẽ có một biến thể của Beagle được viết ra để chống lại nó và ngược lại. Cuộc chạy đua này kéo dài liên tục trong mấy tháng đã làm cho số lượng virus mới xuất hiện trong năm 2004 tăng lên một cách nhanh chóng.

Năm 2004 cũng là năm xuất hiện virus khai thác lỗ hổng của dịch vụ LSASS (Local Security Authority Subsystem Service) trên hệ điều hành Window 2K, Window XP để lây lan giữa các máy tính - virus Sasser. Cũng giống như virus Blaster, virus Sasser nhanh chóng gây nên một tình trạng hỗn loạn trên mạng khi làm Shutdown tự động hàng loạt máy tính mà nó lây nhiễm.

2005 - Sự xuất hiện của các virus lây qua các dịch vụ chatting

Các dịch vụ chatting trực tuyến như Yahoo!, MSN bắt đầu được virus lợi dụng như một công cụ để phát tán virus trên mạng. Theo thống kê của Bkav thì trong vòng 6 tháng đầu năm này, đã có tới 7 dòng virus lây lan qua các dịch vụ chatting xuất hiện ở Việt Nam. Trong thời gian tới những virus tấn công thông qua các dịch vụ chatting sẽ còn tiếp tục xuất hiện nhiều hơn nữa khi số người sử dụng dịch vụ này ngày càng tăng.

2006 – Người dùng trong nước quen dần với sự hiện diện của virus

Mối lo ngại từ năm trước đã trở thành sự thật. Năm 2006, những người dùng dịch vụ chatting Yahoo! Messenger ở Việt Nam đã có lúc rơi vào tình cảnh ngập lụt tin nhắn chứa link độc của virus. Kể từ khi mã nguồn virus Gaixinh được công bố, "phong trào" viết virus lây qua Yahoo! Messenger đã thực sự "nở rộ" trong nước. Người dùng với ý thức cảnh giác không cao đã vô tình gián tiếp tiếp tay cho đại dịch này.

Năm 2006 cũng có thể coi là thời kỳ hoàng kim của virus lây lan qua "con đường giao lưu dữ liệu" quen thuộc của chúng ta: USB. Trong hầu hết các thống kê của Bkav về tình hình lây lan của virus, các virus có cơ chế lây lan qua USB luôn chiếm vị trí cao nhất. Thực tế cho thấy rằng đây là một cơ chế lây lan đơn giản nhưng rất hiệu quả vì dường như rất khỏ bỏ thói quen mở USB ngay khi chúng được cho vào máy.

Đến đây chúng ta đã nhìn nhận được phần nào lịch sử phát triển của virus máy tính, chúng cũng được phát triển theo một trình tự lịch sử tiến hoá từ thấp đến cao. Đây cũng chính là lý do mà các phần mềm diệt virus luôn phải phát triển song hành để phòng chống, tiêu diệt chúng. Và nếu bạn sử dụng máy tính, chúng tôi khuyên bạn nên cảnh giác bởi như bạn đã thấy, dường như tất cả mọi thứ đều có thể bị nhiễm virus, chúng không tha bất cứ cái gì và chúng sẽ xâm nhập vào máy tính thông qua  tất cả những con đường có thể.

Bạn hãy trang bị cho mình giải pháp xử lý, phòng chống virus hiệu quả, và nếu chúng tôi có thể làm gì cho bạn, chúng tôi sẽ gắng hết sức mình như là những "bác sĩ máy tính" cho "bệnh nhân" uống kháng sinh vậy.

Bkav