Tin tức – Hóa đơn điện tử - Bkav Corporation - eHoaDon

Bản tin Thuế Tháng 12/2018

I.   Thông báo thời hạn nộp tờ khai thuế trong kỳ kê khai Tháng 11/2018

Bkav xin thông báo, hạn nộp hồ sơ khai thuế của kỳ kê khai Tháng 11/2018 là thứ Năm ngày 20/12/2018. Bkav xin trân trọng thông báo để Quý khách hàng được biết và thực hiện kê khai, nộp tờ khai đúng hạn.

Bkav lưu ý Quý khách hàng nên kê khai, nộp tờ khai trước thời gian hết hạn để tránh việc quá tải, không gửi được tờ khai.

Trong quá trình kê khai, nếu gặp vấn đề cần hỗ trợ, Quý Khách hàng vui lòng xem Hướng dẫn xử lý vấn đề thường gặp tại địa chỉ http://hd.noptokhai.vn. Quý Khách hàng cũng có thể liên hệ với Trung tâm Chăm sóc khách hàng Bkav CA qua email BkavCA@bkav.com hoặc số điện thoại 1900 18 54, để được hỗ trợ kịp thời.

Ngoài ra, để tham khảo Hướng dẫn và trao đổi các vấn đề thường gặp trong quá trình sử dụng, Quý Khách hàng truy cập Fanpage Bkav CA tại địa chỉ https://www.facebook.com/BkavCA.

II.   Tổng cục Thuế thông báo V/v cập nhật ứng dụng iHTKK 3.6.8, eTax 1.5.2, iTaxViewer 1.5.1, NTĐT 3.3.1, HTKK 4.0.9

Tổng cục Thuế thông báo cập nhật ứng dụng Khai thuế qua mạng (iHTKK) phiên bản 3.6.8, ứng dụng Thuế điện tử (eTax) phiên bản 1.5.2, ứng dụng Nộp thuế điện tử (NTĐT) phiên bản 3.3.1, ứng dụng Hỗ trợ đọc, xác minh tờ khai, thông báo thuế định dạng XML (iTaxViewer) phiên bản 1.5.1, ứng dụng Hỗ trợ kê khai (HTKK) phiên bản 4.0.9 đáp ứng Quyết định số 1867 ngày 12/10/2018 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc hợp nhất Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh Hải Dương, Quyết định số 1869 ngày 12/10/2018 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc hợp nhất Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh Yên Bái, Quyết định số 1964 ngày 23/10/2018 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc hợp nhất Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng, Quyết định số 1965 ngày 23/10/2018 của Bộ trưởng Bộ tài chính về việc hợp nhất Chi cục Thuế trực thuộc Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi, cụ thể như sau:

  • Cập nhật ứng dụng iHTKK 3.6.8, eTax 1.5.2, NTĐT 3.3.1, HTKK 4.0.9: Cập nhật tên các Chi cục Thuế khu vực trực thuộc Cục Thuế tỉnh Yên Bái, Hải Dương, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, trong ứng dụng như sau:
STT Tên Chi cục Thuế trước khi sát nhập Tên Chi cục Thuế khu vực hiển thị trên cổng thông tin điện tử
I Cục Thuế tỉnh Lâm Đồng  
1 Chi cục Thuế thành phố Đà Lạt Thành phố Đà Lạt - Chi cục Thuế khu vực Đà Lạt - Lạc Dương
2 Chi cục Thuế huyện Lạc Dương Huyện Lạc Dương - Chi cục Thuế khu vực Đà Lạt - Lạc Dương
3 Chi cục Thuế huyện Lâm Hà Huyện Lâm Hà - Chi cục Thuế khu vực Lâm Hà - Đam Rông
4 Chi cục Thuế huyện Đam Rông Huyện Đam Rông - Chi cục Thuế khu vực Lâm Hà - Đam Rông
5 Chi cục Thuế huyện Đạ Huoai Huyện Đạ Huoai - Chi cục Thuế khu vực Đạ Huoai - Đạ Tẻh - Cát Tiên
6 Chi cục Thuế huyện Đạ Tẻh Huyện Đạ Tẻh - Chi cục Thuế khu vực Đạ Huoai - Đạ Tẻh - Cát Tiên
7 Chi cục Thuế huyện Cát Tiên Huyện Cát Tiên - Chi cục Thuế khu vực Đạ Huoai - Đạ Tẻh - Cát Tiên
II Cục Thuế tỉnh Quảng Ngãi  
1 Chi cục Thuế huyện Sơn Hà Huyện Sơn Hà - Chi cục Thuế khu vực Sơn Hà - Sơn Tây
2 Chi cục Thuế huyện Sơn Tây Huyện Sơn Tây - Chi cục Thuế khu vực Sơn Hà - Sơn Tây
3 Chi cục Thuế huyện Trà Bồng Huyện Trà Bồng - Chi cục Thuế khu vực Trà Bồng - Tây Trà
4 Chi cục Thuế huyện Tây Trà Huyện Tây Trà - Chi cục Thuế khu vực Trà Bồng - Tây Trà
5 Chi cục Thuế huyện Đức Phổ Huyện Đức Phổ - Chi cục Thuế khu vực Đức Phổ - Ba Tơ
6 Chi cục Thuế huyện Ba Tơ Huyện Ba Tơ - Chi cục Thuế khu vực Đức Phổ - Ba Tơ
III Cục Thuế tỉnh Yên Bái  
1 Chi cục Thuế thị xã Nghĩa Lộ Thị xã Nghĩa Lộ - Chi cục Thuế khu vực Nghĩa Văn
2 Chi cục Thuế huyện Văn Chấn Huyện Văn Chấn - Chi cục Thuế khu vực Nghĩa Văn
IV Cục Thuế tỉnh Hải Dương  
1 Chi cục Thuế huyện Bình Giang Huyện Bình Giang - Chi cục Thuế khu vực Cẩm Bình
2 Chi cục Thuế huyện Cẩm Giàng Huyện Cẩm Giàng - Chi cục Thuế khu vực Cẩm Bình
3 Chi cục Thuế huyện Tứ Kỳ Huyện Tứ Kỳ - Chi cục Thuế khu vực Tứ Lộc
4 Chi cục Thuế huyện Gia Lộc Huyện Gia Lộc - Chi cục Thuế khu vực Tứ Lộc
5 Chi cục Thuế huyện Kinh Môn Huyện Kinh Môn - Chi cục Thuế khu vực Kim Môn
6 Chi cục Thuế huyện Kim Thành Huyện Kim Thành - Chi cục Thuế khu vực Kim Môn
7 Chi cục Thuế huyện Nam Sách Huyện Nam Sách - Chi cục Thuế khu vực Nam Thanh
8 Chi cục Thuế huyện Thanh Hà Huyện Thanh Hà - Chi cục Thuế khu vực Nam Thanh
9 Chi cục Thuế huyện Ninh Giang Huyện Ninh Giang - Chi cục Thuế khu vực Ninh Thanh
10 Chi cục Thuế huyện Thanh Miện Huyện Thanh Miện - Chi cục Thuế khu vực Ninh Thanh
  • Nâng cấp ứng dụng iTaxViewer 1.5.1 đáp ứng các nội dung cập nhật nêu trên. Tổ chức, cá nhân nộp thuế có thể kê khai và tải bộ cài iTaxViewer tại: http://kekhaithue.gdt.gov.vn, https://nopthue.gdt.gov.vn, http://thuedientu.gdt.gov.vn, và bộ cài HTKK tại http://www.gdt.gov.vn hoặc liên hệ trực tiếp với cơ quan Thuế địa phương để được cung cấp và hỗ trợ trong quá trình cài đặt, sử dụng.
  • Thời gian nâng cấp:
    • Từ 18h ngày 30/11/2018 đến 8h ngày 03/12/2018, người nộp thuế thuộc các Chi cục Thuế quản lý theo danh sách trên sẽ không đăng nhập được vào hệ thống Thuế điện tử. Khi đăng nhập, hệ thống Thuế điện tử sẽ có cảnh báo không cho phép đăng nhập để phục vụ công tác hợp nhất các Chi cục Thuế.
    • Từ ngày 03/12/2018, tổ chức, cá nhân trên địa bàn các huyện/thị xã thuộc các Chi cục Thuế khu vực khi khai, nộp thuế thì sử dụng các phiên bản ứng dụng nêu trên (tại mục 1 và 2) thay cho các phiên bản trước đây và chọn Cơ quan thuế quản lý có tên đầu tương ứng với địa bàn của tổ chức, cá nhân người nộp thuế.

Mọi phản ánh, góp ý của tổ chức, cá nhân liên hệ với Cơ quan thuế quản lý để được hỗ trợ.

Tổng cục Thuế trân trọng thông báo./.

(Nguồn: Nhantokhai.gdt.gov.vn; Xem chi tiết tại đây)

III.   Bãi bỏ 3 thông tư về chính sách thuế xuất, nhập khẩu

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư 95/2018/TT-BTC bãi bỏ một số Thông tư trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Theo đó, Thông tư 95/2018/TT-BTC sẽ bãi bỏ toàn bộ các văn bản quy phạm pháp luật do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành trước đây, cụ thể:

  • Thông tư số 35/2010/TT-BTC ngày 12/3/2010 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế xuất khẩu đối với gỗ và than cốc được sản xuất từ toàn bộ nguyên liệu nhập khẩu;
  • Thông tư số 118/2011/TT-BTC ngày 16/8/2011 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng đối với hàng hoá nhập khẩu của các dự án điện;
  • Thông tư số 10/2015/TT-BTC ngày 29/01/2015 của Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết thi hành Quyết định số 54/2014/QĐ-TTg ngày 19/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc miễn thuế nhập khẩu đối với linh kiện nhập khẩu để sản xuất, lắp ráp sản phẩm trang thiết bị y tế cần được ưu tiên nghiên cứu, chế tạo.

Thông tư 95 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/12/2018.

(Nguồn: Baohaiquan.vn; Xem chi tiết tại đây)

IV.   Sẽ hướng dẫn cụ thể các điểm chưa rõ trong Nghị định 130/2018 về Chữ ký số

Giải thích về một điểm trong Nghị định 130/2018 có vẻ trái ngược nhau, một yêu cầu doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chữ ký số phải kết nối Internet và một lại yêu cầu doanh nghiệp phải hạn chế kết nối Internet, đại diện Trung tâm chứng thực điện tử quốc gia cho biết sẽ đề xuất Bộ TT&TT ban hành hướng dẫn cụ thể cho từng đối tượng.

Tại Hội nghị “Chào mừng Ngày Pháp luật Việt Nam 9/11 và trao đổi về kiến nghị của các doanh nghiệp TT&TT đối với các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành” do Bộ TT&TT tổ chức chiều 7/11 ở Hà Nội, ông Ngô Tuấn Anh, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chữ ký số và giao dịch điện tử thuộc Hiệp hội An toàn thông tin đã phản ánh về hai yêu cầu có vẻ trái ngược nhau trong Nghị định số 130/2018.

Theo ông Ngô Tuấn Anh, Nghị định 130/2018/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Giao dịch điện tử về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số sẽ có hiệu lực từ ngày 15/11/2018. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề đang tồn tại, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ chữ ký số (CA) công cộng.

Cụ thể, Điều 78 - Nghĩa vụ của người ký trước khi thực hiện ký số đã quy định: “Trong trường hợp người ký sử dụng chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp: Kiểm tra trạng thái chứng thư số của tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số cho mình trên hệ thống kỹ thuật của Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia”.

Hiểu một cách nôm na là 1 người A gửi dữ liệu cho người B và sử dụng chữ ký số thì người A khi ký phải kiểm tra chữ ký số của mình trên hệ thống của Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia.

“Quy định nêu trên có một số bất hợp lý. Thực tế, về kỹ thuật và thông lệ quốc tế chỉ quy định quyền được kiểm tra, còn trong Nghị định số 130 lại quy về phần nghĩa vụ”, ông Ngô Tuấn Anh nhận định, đồng thời phân tích: Hiện nay, với các hệ thống như ngân hàng, chứng khoán…, khi một người thực hiện giao dịch trực tuyến sử dụng chữ ký số, thông thường hệ thống của ngân hàng, chứng khoán… sẽ phải gửi trả lại xác nhận là đã tiếp nhận giao dịch, rồi sẽ ký số bằng chữ ký số của mình lên đó. Các hệ thống lõi của ngân hàng, chứng khoán… có yêu cầu bảo mật cao, sẽ không bao giờ kết nối lên Internet. Nhưng theo quy định ở Điều 78 nêu trên thì giờ họ cũng phải kết nối trực tiếp lên hệ thống của Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia để có thể kiểm tra trạng thái chữ ký số.

Các CA cũng là các đơn vị sử dụng chứng thư số do Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia cấp, mỗi khi cấp phát chữ ký số cho khách hàng cũng phải kiểm tra theo quy định trong Điều 78, nghĩa là cũng phải kết nối Internet với hệ thống của Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia. Nhưng cũng trong Nghị định số 130 lại có quy định rằng hệ thống của các CA phải cách ly với hệ thống Internet.

“Như vậy cùng trong một nghị định có một nội dung yêu cầu chúng tôi phải kết nối Internet để kiểm tra trạng thái chữ ký số nhưng lại có nội dung khác yêu cầu chúng tôi phải hạn chế kết nối Internet. Vô hình chung thì kiểu gì chúng tôi cũng sai, không sai ở nội dung này thì cũng sai ở nội dung kia. Chúng tôi đã có văn bản gửi lãnh đạo Bộ TT&TT và có 2 buổi làm việc với Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia nhưng đến nay vẫn đề vẫn chưa được giải quyết. Ngày 15/11 tới, Nghị định số 130 sẽ có hiệu lực, nếu những vướng mắc vẫn tồn tại thì sẽ rất khó khăn cho các CA trong quá trình triển khai”, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Chữ ký số và giao dịch điện tử bày tỏ.

Ghi nhận kiến nghị về Điều 78 Nghị định số 130, đại diện Trung tâm Chứng thực điện tử Quốc gia giải thích: Có 3 đối tượng chịu sự điều chỉnh của Nghị định số 130 gồm: người dùng cuối, CA, người dùng là các tổ chức thuế, ngân hàng… 3 đối tượng có quá trình sử dụng đặc thù riêng. Mục tiêu, mong muốn của cơ quan soạn thảo là nâng cao ý thức của người sử dụng trước khi dùng chữ ký số khi giao dịch điện tử. Giải pháp đối với kiến nghị của doanh nghiệp nêu ra là Trung tâm sẽ tham mưu Bộ TT&TT ban hành văn bản hướng dẫn thực thi liên quan Điều 78.

Đại diện Vụ Pháp chế cũng chia sẻ: Các quy định pháp luật phải nhìn dưới góc độ bảo vệ cho số đông những người ký số. Các thuê bao khi ký phải kiểm tra trạng thái chứng thư số xem còn hiệu lực không. Những người sử dụng nhiều lần mỗi ngày thì trong đầu sẽ nhớ chứng thư số của mình có giá trị đến thời điểm nào, nhưng những người không sử dụng thường xuyên thì cần kiểm tra để đảm bảo chữ ký số không hết hiệu lực. Bộ TT&TT sẽ ban hành thông tư hướng dẫn biện pháp kỹ thuật để thuận tiện cho các đối tượng gồm cả thuê bao cũng như các CA. Ví dụ, sẽ yêu cầu CA khi thiết kế chữ ký số đảm bảo có phần mềm nhúng để khi ký số thì kiểm tra luôn được giá trị chứng thư số.

Tuy nhiên, những giải đáp nêu trên chưa thể khiến các doanh nghiệp giảm bớt nỗi lo. “Luật Giao dịch điện tử ở Điều 25, Điều 26 đã quy định người nhận tài liệu có ký số là người có trách nhiệm kiểm tra giá trị và thời hạn của chữ ký số. Mặt khác, trong 10 năm làm lĩnh vực này, tôi không thấy xảy ra rủi ro nào liên quan đến việc người ký không kiểm tra chữ ký của mình. Kể cả dự báo tương lai cũng không thấy có sở cứ nào để phải đưa nội dung này vào Nghị định số 130”, ông Ngô Tuấn Anh nói.

Được biết, trong một buổi họp mới đây với Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia, đại diện Tổng Công ty Giải pháp doanh nghiệp Viettel cũng có ý kiến rằng: Văn bản này là nghị định, theo chủ trương của Chính phủ thì thông tư chỉ quy định biểu mẫu để triển khai, không mang tính hướng dẫn nữa. Liệu một thông tư hướng dẫn có giải quyết được vấn đề đã nêu rõ trong nghị định hay không? Mặt khác, giả sử bây giờ nói điều này có thể hiểu cách A, cách B, nhưng sau này cơ quan nhà nước vận dụng nội dung đã quy định rõ trong nghị định rồi yêu cầu phải tuân thủ, khi đó sẽ rủi ro cho doanh nghiệp.

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Minh Hồng nhấn mạnh: “Cần sớm có giải pháp để tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp". Thứ trưởng cũng yêu cầu Vụ Pháp chế báo cáo Bộ trưởng và lãnh đạo Bộ để chỉ đạo các giải pháp cụ thể xử lý vướng mắc cho doanh nghiệp.

(Nguồn: Ictnews.vn; Xem chi tiết tại đây)

V.   Nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp lĩnh vực CNTT tại khu CNTT tập trung

Các nhà đầu tư doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) tại khu CNTT tập trung sẽ được hưởng nhiều chính sách hỗ trợ, ưu đãi theo quy định pháp luật hiện hành. 

Theo đó, căn cứ quy định tại Điều 22 Nghị định 154/2013/NĐ-CP ngày 08/11/2013 của Chính phủ quy định về việc hỗ trợ, ưu đãi cho tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghệ thông tin tập trung, tổ chức, doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực công nghệ thông tin tại khu công nghệ thông tin tập trung được hưởng các hỗ trợ, ưu đãi sau đây:

  • Thứ nhất: Được lựa chọn hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thuê đất hoặc thuê lại đất đã xây dựng cơ sở hạ tầng theo quy định của pháp luật về đất đai;
  • Thứ hai: Được áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong thời hạn 15 năm, miễn thuế 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 09 năm tiếp theo đối với thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghệ thông tin tập trung. Đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ thông tin có quy mô lớn cần đặc biệt thu hút đầu tư, thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi có thể kéo dài nhưng tổng thời gian áp dụng thuế suất 10% không quá 30 năm. Thủ tướng Chính phủ quyết định việc kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10% quy định tại Khoản này theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
  • Thứ ba: Được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định và phục vụ sản xuất sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin của doanh nghiệp, bao gồm:

a) Thiết bị, máy móc;

b) Phương tiện vận tải chuyên dùng trong dây chuyền công nghệ trong nước chưa sản xuất được; phương tiện vận chuyển đưa đón công nhân gồm xe ô tô từ 24 chỗ ngồi trở lên và phương tiện thủy;

c) Linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc, phương tiện vận tải chuyên dùng quy định tại Điểm a và Điểm b Khoản này;

d) Nguyên liệu, vật tư trong nước chưa sản xuất được dùng để chế tạo thiết bị, máy móc nằm trong dây chuyền công nghệ hoặc để chế tạo linh kiện, chi tiết, bộ phận rời, phụ tùng, gá lắp, khuôn mẫu, phụ kiện đi kèm để lắp ráp đồng bộ với thiết bị, máy móc quy định tại Điểm a Khoản này;

đ) Vật tư xây dựng trong nước chưa sản xuất được.

  • Thứ tư: Được hưởng các ưu đãi về thuế xuất khẩu đối với các sản phẩm và dịch vụ công nghệ thông tin theo quy định của pháp luật;
  • Thứ năm: Được tạo điều kiện thuận lợi về thủ tục hải quan trong quá trình xuất nhập khẩu máy móc thiết bị và sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin;
  • Thứ sáu: Được hưởng các ưu đãi về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước, Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia và các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật;
  • Thứ bảy: Được hưởng các chính sách ưu đãi khác của Nhà nước áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong khu công nghệ cao. Trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng được hưởng nhiều mức ưu đãi theo quy định của pháp luật thì áp dụng mức ưu đãi cao nhất.

Đối với lĩnh vực sản xuất phần mềm, trường hợp DN thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất phần mềm nếu đáp ứng là hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm quy định tại Thông tư số 09/2013/TT-BTTTT ngày 08/04/2013 và Thông tư số 16/2014/TT-BTTTT ngày 18/11/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông thì thu nhập từ các hoạt động này của Công ty được hưởng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm kể từ năm đầu tiên công ty có doanh thu từ dự án đầu tư mới; miễn thuế TNDN 4 năm, giảm 50% số thuế TNDN phải nộp trong 9 năm tiếp theo.

Doanh nghiệp tự xác định các điều kiện ưu đãi thuế, mức thuế suất ưu đãi, thời gian miễn thuế, giảm thuế, số lỗ được trừ (-) vào thu nhập tính thuế để tự kê khai và tự quyết toán thuế với cơ quan thuế.

Các ưu đãi về thuế TNDN nêu trên chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế TNDN theo kê khai.

(Nguồn: Taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)

VI.   Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa 176 thủ tục hành chính

Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định 2141/QĐ-BTC phê duyệt Phương án cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Tài chính. Theo đó, Bộ Tài chính sẽ cắt giảm, đơn giản hóa 176 thủ tục hành chính (TTHC) thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính, trong đó rà soát cắt giảm 148 TTHC và đơn giản hóa 28 TTHC thuộc 13 lĩnh vực. Cụ thể:

  • Lĩnh vực thuế cắt giảm 07 TTHC, đơn giản hóa 02 TTHC, trong đó bãi bỏ các thủ tục liên quan đến: khai thuế GTGT đối với sản phẩm viễn thông; thủ tục khai khoản thu điều tiết tháng, năm; thủ tục hoàn thuế GTGT đối với một số sản phẩm máy móc; thủ tục khai thuế GTGT đối với cơ sở sản xuất thủy điện.
  • Lĩnh vực hải quan cắt giảm 05 TTHC, đơn giản 09 TTHC, trong đó bãi bỏ thủ tục tư vấn cho công dân và doanh nghiệp về thủ tục hành chính hải quan; thủ tục cấp lại danh mục hàng hóa nhập khẩu miễn thuế và phiếu theo dõi trừ lùi; thủ tục sao y tờ khai Hải quan, thủ tục bảo lãnh chung và riêng; đơn giản hóa 05 loại giấy tờ có trong hồ sơ thuộc thủ tục công nhận đủ điều kiện kinh doanh cửa hàng miễn thuế.
  • Lĩnh vực KBNN cắt giảm 10 TTHC, đơn giản 12 TTHC, trong đó bãi bỏ các thủ tục liên quan đến nhận gửi và bảo quản các loại tài sản quý hiếm; thủ tục giao tài sản quý hiếm và các giấy tờ có giá; thủ tục thanh toán vốn đối với các chương trình xóa đói giảm nghèo (Chương trình 5 triệu ha rừng, Chương trình 135 giai đoạn II). Đơn giản hóa các thủ tục nộp tiền, hoàn trả tiền vào ngân sách nhà nước qua Kho bạc Nhà nước.
  • Lĩnh vực chứng khoán cắt giảm 36 TTHC, bãi bỏ thủ tục liên quan đến điều chỉnh giấy phép thành lập và hoạt động công ty quản lý quỹ do bổ sung nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán; thủ tục đề nghị xác nhận báo cáo về việc công ty quản lý quỹ sử dụng cổ phiếu quỹ để chia cho cổ đông hiện hữu và thưởng cho người lao động; thủ tục gia hạn thời gian phân phối chứng chỉ quỹ mở; thủ tục đề nghị Xác nhận báo cáo cung cấp dịch vụ giám sát quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán.
  • Lĩnh vực bảo hiểm cắt giảm 09 TTHC và đơn giản hóa 02 TTHC liên quan đến thông báo thay đổi trưởng văn phòng đại diện, địa điểm đặt trụ sở; chế độ báo cáo của doanh nghiệp, của cơ sở đào tạo, thay đổi địa điểm kinh doanh. Gộp nhóm thủ tục liên quan đến hoạt động phê chuẩn sản phẩm bảo hiểm.
  • Lĩnh vực công sản cắt giảm 23 TTHC, bãi bỏ các thủ tục liên quan đến thủ tục quyết định số tiền được sử dụng để thực hiện dự án đầu tư và cấp phát, quyết toán số tiền thực hiện dự án; thủ tục thanh toán hỗ trợ di dời; thủ tục hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp phải di dời; thủ tục liên quan đến tạm ứng trước vốn cho các đơn vị phải di dời; bãi bỏ thủ tục liên quan đến giao tài sản nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ tài chính thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện.

Như vậy, với việc cắt giảm, đơn giản hóa 176 TTHC lần này, tổng số TTHC thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ Tài chính còn lại là 839 TTHC; trong đó, lĩnh vực thuế là 291 TTHC, lĩnh vực hải quan là 178 TTHC, lĩnh vực chứng khoán là 148 TTHC, lĩnh vực KBNN là 12 TTHC và lĩnh vực tài chính khác là 210 TTHC.

(Nguồn: Taichinhdientu.vn; Xem chi tiết tại đây)

VII.   Doanh nghiệp phải sử dụng hóa đơn điện tử trong giao dịch bán hàng hóa

Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) đã quy định rõ các doanh nghiệp phải sử dụng hoá đơn điện tử trong giao dịch bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ để khắc phục những gian lận trong việc sử dụng hoá đơn giấy, nâng cao tính cạnh trạnh của toàn nền kinh tế.

Xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại

Ngày 8/11, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án Luật Quản lý thuế (sửa đổi).

Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng, qua đánh giá thực trạng việc thực thi Luật Quản lý thuế và qua nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, Chính phủ thấy rằng việc sửa đổi Luật Quản lý thuế ở thời điểm hiện nay là hết sức cần thiết, với các lý do:

  • Để hoàn thiện thể chế quản lý thuế, thực hiện cải cách hành chính, tạo ra môi trường đầu tư kinh doanh lành mạnh, tạo điều kiện phát triển các thành phần kinh tế;
  • Tiếp cận tới các chuẩn mực và thông lệ quốc tế để góp phần thu hút đầu tư trong nước, nước ngoài, tạo cơ sở để xây dựng hệ thống quản lý thuế hiện đại trong điều kiện hội nhập;
  • Tạo hành lang pháp lý cho việc ứng dụng công nghệ thông tin cho công tác quản lý thuế, trong đó có việc áp dụng rộng rãi phổ biến quản lý thuế điện tử, giao dịch điện tử công khai, minh bạch.

“Xây dựng Luật Quản lý thuế (sửa đổi) hoàn chỉnh, toàn diện nhằm mục đích tạo cơ sở cho quản lý thuế hiện đại, tiếp cận tới những chuẩn mực, thông lệ quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cho cơ quan quản lý thuế thực hiện nghiêm quyền, nghĩa vụ của người nộp thuế; quyền và trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế theo quy định pháp luật, tích cực phòng chống tham nhũng, tiêu cực”.

Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nhấn mạnh.

Dự thảo Luật Quản lý thuế (sửa đổi) bao gồm 17 chương, 152 điều. Trong đó, về nội dung quản lý thuế được kế thừa các quy định hiện hành, nhưng tại dự thảo luật có bổ sung các nội dung:

  • Không thu thuế;
  • Khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp;
  • Quản lý hoá đơn, chứng từ;
  • Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế. Việc bổ sung quy định về khoanh nợ thuế là cần thiết nhằm phản ánh số nợ thực tế.

Dự thảo luật cũng quy định nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan như Chính phủ; các Bộ, cơ quan ngang Bộ; hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp theo hướng chỉ quy định nhiệm vụ, quyền hạn liên quan trực tiếp đến quản lý thuế, không nhắc lại nhiệm vụ quyền hạn đã được quy định tại các văn bản pháp luật liên quan. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quản lý thuế, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý ngành và địa phương trong quản lý thuế; Bộ Tài chính là cơ quan chủ trì giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về quản lý thuế, có nhiệm vụ, quyền hạn quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 15 dự thảo luật. Các Bộ, ngành có liên quan được xây dựng theo hướng phối hợp thực hiện quản lý thuế phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng Bộ, ngành.

Bên cạnh đó, dự thảo luật đã quy định cơ quan kiểm toán nhà nước, thanh tra nhà nước thực hiện kiểm toán, thanh tra các hoạt động có liên quan đến cơ quan quản lý thuế theo quy định của pháp luật về kiểm toán nhà nước, pháp luật về thanh tra, quy định của pháp luật về quản lý thuế và các quy định của pháp luật có liên quan.

Đồng thời, quy định việc đăng ký thuế bao gồm:

  • Đăng ký thuế lần đầu, đăng ký thay đổi thông tin, đăng ký tạm ngừng kinh doanh, đăng ký khôi phục tạm ngừng kinh doanh...;
  • Đồng thời quy định để phân biệt rõ hai nhóm đối tượng đăng ký thuế gồm:
    • Người nộp thuế là các cơ sở kinh doanh đăng ký thuế cùng với đăng ký kinh doanh theo cơ chế một cửa liên thông;
    • Đối với các trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế cùng với đăng ký kinh doanh theo cơ chế một cửa liên thông, không tổ chức hoạt động kinh doanh, nhưng có phát sinh nghĩa vụ thuế thì đăng ký thuế trực tiếp với cơ quan thuế.

Ngoài ra, dự thảo luật bổ sung quy định khai thuế, tính thuế trong trường hợp hạch toán toàn ngành, giao dịch liên kết theo hướng vừa tạo thuận lợi cho người nộp thuế, vừa phù hợp với quy định của Luật Ngân sách nhà nước về phân cấp ngân sách, đảm bảo nguyên tắc quản lý thuế. Hơn nữa, Dự thảo đã quy định cụ thể về hồ sơ hoàn thuế; các trường hợp hoàn thuế; tiếp nhận phản hồi thông tin hồ sơ hoàn thuế, và thẩm quyền quyết định hoàn thuế, thanh tra, kiểm tra sau hoàn thuế. Trong đó, quy định rõ về thẩm quyền hoàn thuế đối với trường hợp hoàn thuế theo chính sách và hoàn thuế nộp thừa.

Bổ sung quy định về khoanh nợ, xóa nợ thuế

Một điểm đáng chú ý, dự thảo luật đã bổ sung quy định về khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp đối với các đối tượng người nộp thuế đã chết, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự; người nộp thuế bỏ địa chỉ kinh doanh, doanh nghiệp chờ giải thể, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, cơ quan đăng ký kinh doanh đã thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh được khoanh nợ thuế. “Quy định này là phù hợp với thực tế, khi mà nợ trên phạt chậm nộp cao, dẫn đến nợ đọng lớn trong khi nợ này là nợ ảo, không có khả năng thu hồi. Đồng thời, quy định rõ về thẩm quyền khoanh nợ tiền thuế, tiền chậm nộp theo hướng phân cấp cho thủ trưởng cơ quan quản lý thuế; quy định thời điểm không tính tiền chậm nộp đối với các trường hợp được khoanh nợ” - Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng nói.

Nếu như Luật quản lý thuế hiện hành quy định Thủ tướng Chính phủ xoá nợ thuế từ 10 tỷ đồng trở lên; tuy nhiên để cải cách thủ tục hành chính, dự thảo luật quy định tập trung thẩm quyền xóa nợ cho Bộ trưởng Bộ Tài chính và cơ quan quản lý thuế. Theo đó, Bộ trưởng Bộ Tài chính xóa nợ từ 5 tỷ đồng trở lên; Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế và Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan xóa nợ từ 1 tỷ đồng đến dưới 5 tỷ đồng. Bổ sung quy định phân cấp cho Cục trưởng Cục thuế, Cục trưởng Cục Hải quan xóa nợ đối với trường hợp nợ dưới 1 tỷ đồng.

Về áp dụng hoá đơn, chứng từ điện tử, Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng khẳng định, dự thảo luật đã quy định rõ các doanh nghiệp phải sử dụng hoá đơn điện tử trong giao dịch bán hàng hoá, và cung cấp dịch vụ để khắc phục những gian lận trong việc sử dụng hoá đơn giấy, nâng cao tính cạnh trạnh của toàn nền kinh tế, để góp phần ứng dụng quản lý thuế hiện đại, xây dựng cơ sở dữ liệu về hoá đơn để góp phần xây dựng cơ quan thuế điện tử.

Nhằm thúc đẩy giao dịch điện tử trong quản lý thuế, dự thảo luật cũng đã bổ sung những quy định liên quan đến quản lý thuế đối với hoạt động thương mại theo hướng: Xây dựng cơ sở dữ liệu và triển khai rộng rãi các dịch vụ thuế điện tử như khai thuế điện tử, hoá đơn điện tử, nộp thuế online; bổ sung quy định trách nhiệm của các Bộ, ngành, các tổ chức, đơn vị liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, trên cơ sở đó áp dụng các biện pháp quản lý thuế phù hợp.

Mặt khác, để tăng cường hiệu quả của công tác cưỡng chế thu nợ, dự thảo luật sửa đổi theo hướng cơ quan quản lý thuế được áp dụng biện pháp cưỡng chế một cách phù hợp (không áp dụng tuần tự) trên cơ sở đánh giá đầy đủ thông tin, điều kiện để xác định biện pháp cưỡng chế nào có hiệu quả. Dự thảo luật cũng quy định rõ nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính, các trường hợp xử phạt, các trường hợp không bị xử phạt và thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.

(Nguồn: Congthuong.vn; Xem chi tiết tại đây)

VIII.   Sửa quy định về đại lý là thủ tục hải quan

Bộ Tài chính đang dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 12/2015/TT-BTC quy định chi tiết thủ tục cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan; trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan.

Theo đó, dự thảo sửa đổi, bổ sung quy định về “Đại lý làm thủ tục hải quan” như sau: Đại lý làm thủ tục hải quan là doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Hải quan, trong phạm vi được ủy quyền theo thỏa thuận trong hợp đồng ký với người có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu (sau đây gọi chung là chủ hàng) thay mặt chủ hàng thực hiện toàn bộ hoặc một phần các công việc liên quan đến thủ tục hải quan theo quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Hải quan, gồm:

  • Khai hải quan;
  • Nộp, xuất trình bộ hồ sơ hải quan có liên quan đến lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định;
  • Cung cấp đầy đủ chính xác thông tin để cơ quan hải quan thực hiện xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan đối với hàng hóa;
  • Xuất trình hàng hóa, phương tiện vận tải để cơ quan hải quan kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải theo quy định của pháp luật.

Thực hiện quyết định và yêu cầu của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; vận chuyển, làm thủ tục hải quan đưa vào, đưa ra khu vực giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; cung cấp dịch vụ tư vấn về thủ tục hải quan và quản lý thuế cho chủ hàng.

Nộp các khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thực hiện thủ tục miễn thuế, hoàn thuế, giảm thuế, không thu thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; thực hiện các quyết định xử phạt vi phạm hành chính của cơ quan hải quan; thực hiện các thủ tục hành chính khác với cơ quan hải quan.

Đại lý làm thủ tục hải quan (giám đốc hoặc người được giám đốc ủy quyền theo quy định của pháp luật) phải ký hợp đồng đại lý với chủ hàng; người được cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện việc khai và làm thủ tục hải quan trên cơ sở hợp đồng đại lý đã ký với chủ hàng; đại lý làm thủ tục hải quan nộp hợp đồng đại lý cho cơ quan hải quan dưới dạng chứng từ điện tử đối với trường hợp đăng ký tờ khai hải quan điện tử, nộp bản chụp đối với trường hợp đăng ký tờ khai giấy khi phát sinh chủ hàng mới hoặc hợp đồng nguyên tắc mới hoặc khi lần đầu làm thủ tục hải quan tại Chi cục Hải quan hoặc khi xác định hành vi vi phạm pháp luật về hải quan. Giám đốc đại lý hoặc người được giám đốc ủy quyền theo quy định của pháp luật thực hiện việc ký tên, đóng dấu trên tờ khai hải quan và các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan khi thực hiện các công việc quy định.

Bên cạnh đó, dự thảo cũng sửa đổi, bổ sung quy định “Tạm dừng, chấm dứt hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan”: Khi có cơ sở chứng minh đại lý làm thủ tục hải quan hoạt động không đảm bảo các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Hải quan hoặc không hoạt động đúng tên và địa chỉ đã đăng ký với cơ quan hải quan, Tổng cục Hải quan quyết định tạm dừng hoạt động theo mẫu số 06 ban hành kèm Thông tư này.

Đại lý làm thủ tục hải quan bị chấm dứt hoạt động trong các trường hợp sau: Bị xử lý về hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế hoặc thông đồng với chủ hàng để buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự; cung cấp dịch vụ làm thủ tục hải quan mà không ký hợp đồng đại lý với chủ hàng; có gian lận trong việc cung cấp hồ sơ đề nghị công nhận đại lý làm thủ tục hải quan hoặc hồ sơ đề nghị cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan cho cơ quan hải quan…

(Nguồn: Baochinhphu.vn; Xem chi tiết tại đây)

Bkav